VẠN SẮC
ORBIS.
BẠN ĐANG ỞẤY TỪ TỪ
ORIGINAL · BIÊN TẬP7 PHÚT ĐỌC

NẾU MÌNH KHÔNG THỂ PHẢN KHÁNG THÌ SAO?

Tại sao không chạy? Tại sao không hét? Có lẽ trước khi hỏi như vậy, cần hỏi một câu khác: lúc đó, họ còn có thể làm được gì?

FOLDA / 001
Illustration — Gilsasm, “Feeling Unsafe” (2024) · Wikimedia Commons · CC0 1.0

Có những lời khuyên chỉ có tác dụng khi người gặp nguy hiểm vẫn còn khả năng làm theo.

CẦN BIẾT TRƯỚC

Không chống trả không có nghĩa là đồng thuận. Im lặng hay bất động cũng không thể tự được hiểu là đồng thuận. Một người đang bất tỉnh, quá say để đưa ra quyết định hoặc không còn khả năng thể hiện ý chí không thể được mặc định là đã đồng ý.

Nếu một người không chạy được, không hét được hay không chống lại được, trách nhiệm cũng không vì thế mà chuyển sang họ.

Lưu ý nội dung: Bài viết đề cập đến xâm hại tình dục, phản ứng bất động và mất khả năng phản kháng. Không mô tả chi tiết hành vi xâm hại.


“Hãy chạy.”

“Hãy hét lên.”

“Hãy gọi người khác.”

“Hãy chống trả.”

Những lời này không hẳn sai. Nhưng chúng đều có chung một điều kiện: người đang gặp nguy hiểm vẫn phải còn khả năng làm theo.

Họ phải nhận ra chuyện gì đang xảy ra, còn đủ tỉnh táo, còn điều khiển được cơ thể, còn sức để chạy hoặc chống lại, có thể lên tiếng, với được tới điện thoại hoặc ít nhất có một khoảng trống để hành động.

Trong thực tế, con người không phải lúc nào cũng bước vào nguy hiểm trong trạng thái khỏe mạnh và sẵn sàng phản ứng.

Một người có thể đang sốt, kiệt sức, chịu tác dụng của rượu hoặc thuốc. Họ có thể bị giữ lại trong một không gian khó thoát, bị một người mạnh hơn khống chế hoặc vẫn nhận thức được mọi thứ nhưng cơ thể lại không phản ứng theo điều mình muốn. Có trường hợp họ hoàn toàn mất ý thức.

Đó là khoảng trống mà nhiều lời khuyên phòng tránh ít khi đề cập đến.

Có những lúc cơ thể không nghe lời

Khi nói về phản ứng trước nguy hiểm, người ta thường nhắc tới hai lựa chọn quen thuộc: chiến đấu hoặc bỏ chạy.

Nhưng phản ứng phòng vệ của con người phức tạp hơn thế.

Các nghiên cứu còn mô tả những trạng thái tự động như freezing và tonic immobility. Hai khái niệm này không hoàn toàn giống nhau.

Trong một mô hình về chuỗi phản ứng phòng vệ, freezing được mô tả như trạng thái hành động tạm dừng trong khi hệ thần kinh vẫn đang đánh giá và chuẩn bị phản ứng. Tonic immobility là trạng thái ức chế vận động không tự nguyện có thể xuất hiện khi mối đe dọa được cảm nhận là rất khó hoặc không thể thoát khỏi.

Khi đó, một người có thể vẫn biết chuyện gì đang xảy ra và biết mình muốn làm gì, nhưng không thực hiện được. Cơ thể có thể bất động, giọng nói không phát ra được hoặc khả năng chủ động phản ứng giảm mạnh.

Điều này không xảy ra với tất cả mọi người và cũng không nên dùng một phản ứng sang chấn để giải thích thay trải nghiệm của từng cá nhân. Nhưng nó cho thấy một điều: việc một người không chống trả không đủ để suy ra rằng họ đã đồng thuận.

Khi “tại sao không chống lại?” không còn là một câu hỏi đơn giản

Một nghiên cứu công bố năm 2017 xem xét 298 phụ nữ đến một phòng khám chuyên biệt tại Stockholm trong vòng một tháng sau khi bị cưỡng hiếp.

Trong mẫu này, 70% báo cáo tonic immobility ở mức đáng kể và 48% ở mức cực độ. Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên hệ giữa mức tonic immobility và PTSD hoặc trầm cảm nặng ở nhóm được theo dõi sau sáu tháng.

Những con số này cần được đọc rất cẩn thận.

298 người tham gia không phải một mẫu ngẫu nhiên đại diện cho toàn bộ dân số. Nghiên cứu được thực hiện tại Thụy Điển, không phải Việt Nam, và không thể dùng để kết luận rằng một tỷ lệ tương tự tồn tại ở mọi nhóm người bị xâm hại tình dục.

Mối liên hệ với PTSD hay trầm cảm cũng không đồng nghĩa tonic immobility đã được chứng minh là nguyên nhân gây ra hai tình trạng đó.

Một tổng quan công bố năm 2024 tìm được 11 nghiên cứu phù hợp về tonic immobility trong bạo lực tình dục và lưu ý rằng lượng nghiên cứu hiện tại vẫn còn hạn chế, phần lớn tập trung vào phụ nữ bị cưỡng hiếp.

Vì vậy, giá trị của những nghiên cứu này không nằm ở một con số như “70%”. Chúng quan trọng vì cho thấy phản kháng thể chất không phải lúc nào cũng nằm dưới sự kiểm soát chủ động của một người.

Vậy học cách phòng tránh có vô ích không?

Không.

Nếu từ những bằng chứng về phản ứng bất động đi đến kết luận rằng tự vệ hay phòng tránh hoàn toàn vô dụng thì cũng là một bước suy rộng quá mức.

Một thử nghiệm ngẫu nhiên tại ba đại học Canada đã nghiên cứu chương trình Enhanced Assess, Acknowledge, Act (EAAA) trên 893 nữ sinh viên năm nhất.

Đây không phải một buổi học vài động tác thoát thân. Chương trình kéo dài 12 giờ, gồm nhận diện nguy cơ, nhận biết tình huống đang trở nên cưỡng ép, phản kháng bằng lời và các kỹ năng thể chất được thực hành.

Sau một năm, kết quả được nghiên cứu phân loại là completed rape được báo cáo ở 5,2% nhóm tham gia chương trình và 9,8% nhóm đối chứng. Attempted rape là 3,4% so với 9,3%.

Đây là kết quả đáng chú ý, nhưng phạm vi của nó cũng cần được giữ đúng. Nghiên cứu cho thấy một chương trình cụ thể có hiệu quả trong một nhóm cụ thể. Nó không chứng minh rằng mọi lớp tự vệ đều có hiệu quả tương tự, cũng không chứng minh rằng một kỹ thuật riêng lẻ có thể giúp một người thoát khỏi mọi tình huống.

Quan trọng hơn, chương trình này vẫn chủ yếu hoạt động ở giai đoạn người tham gia còn có khả năng nhận biết, lựa chọn và hành động.

Nó không giải quyết được toàn bộ những trường hợp một người đã bất tỉnh, quá say, bị khống chế hoàn toàn hoặc không còn khả năng vận động chủ động.

Kỹ năng cá nhân có thể tạo thêm cơ hội. Nhưng cơ hội không giống với sự bảo đảm.

Khi khả năng hành động giảm, trách nhiệm phòng ngừa phải được mở rộng

Đây có lẽ là phần quan trọng nhất.

Rất nhiều lời khuyên phòng tránh đặt trọng tâm vào người có nguy cơ bị hại: phải cảnh giác, phải biết từ chối, phải biết chạy, phải biết gọi người khác, phải biết chống trả.

Những điều đó có thể hữu ích khi họ vẫn còn khả năng hành động.

Nhưng nếu khả năng ấy giảm dần, việc tiếp tục chỉ yêu cầu họ “làm tốt hơn” bắt đầu trở nên thiếu hụt.

Một người quá say có thể không còn đủ khả năng đánh giá và phản ứng. Một người bất tỉnh hoàn toàn không thể tự bảo vệ mình. Một người đang freeze hoặc bị khống chế cũng có thể không sử dụng được những kỹ năng mình từng học.

Ở những thời điểm như vậy, phòng ngừa không thể chỉ nằm trên vai người đang gặp nguy hiểm.

Nó phải bao gồm người xung quanh, người chứng kiến, bạn bè đi cùng, cách tổ chức không gian, khả năng tiếp cận trợ giúp, quy trình xử lý của cơ sở và đặc biệt là hành vi của người đang có quyền lựa chọn trong tình huống đó.

CDC cũng tiếp cận phòng ngừa bạo lực tình dục theo nhiều tầng: thay đổi chuẩn mực xã hội, phát triển kỹ năng, can thiệp của người chứng kiến, tạo môi trường bảo vệ và hỗ trợ người sống sót. Nói cách khác, phòng ngừa không chỉ là dạy một người cách chống trả tốt hơn.

Nếu một người đã không còn khả năng hành động, câu hỏi “họ nên làm gì?” cũng dần mất đi ý nghĩa.

Lúc đó, ai vẫn còn đang có quyền lựa chọn?

Điều bài này muốn giữ lại

Không có một phản ứng duy nhất được xem là “đúng” khi gặp nguy hiểm.

Một người có thể chạy hoặc chống lại. Người khác có thể im lặng, cố làm theo yêu cầu vì nghĩ đó là lựa chọn an toàn nhất, bất động dù vẫn nhận thức được chuyện đang xảy ra hoặc hoàn toàn mất ý thức.

Những phản ứng đó không tự nói cho chúng ta biết một người đã đồng thuận hay chưa.

Kỹ năng phòng tránh vẫn đáng học nếu chúng được xây dựng trên bằng chứng và được trình bày đúng giới hạn. Những phương pháp giúp tăng khả năng nhận diện nguy cơ, tìm trợ giúp hoặc tạo thêm cơ hội thoát ra vẫn đáng nghiên cứu.

Nhưng phòng tránh xâm hại tình dục không thể dừng ở việc yêu cầu người có nguy cơ bị hại phải luôn đủ tỉnh táo, đủ khỏe và đủ nhanh để bảo vệ chính mình.

Trước khi hỏi một người tại sao họ không chạy, không hét hay không chống lại, có lẽ câu hỏi cần đặt trước là:

Lúc đó, họ còn có thể làm được gì?


ĐÀO SÂUPhần đứng sau bài viết.

Nguồn

  • 01

    1. Kozlowska K, Walker P, McLean L, Carrive P. (2015). Fear and the Defense Cascade: Clinical Implications and Management. Harvard Review of Psychiatry, 23(4), 263–287. Tổng quan về các phản ứng phòng vệ tự động, bao gồm fight, flight, freezing và tonic/collapsed immobility. Bài này sử dụng nguồn để phân biệt các trạng thái, không coi chuỗi này là phản ứng cố định của mọi người.

  • 02

    2. Möller A, Söndergaard HP, Helström L. (2017). Tonic immobility during sexual assault – a common reaction predicting post-traumatic stress disorder and severe depression. Acta Obstetricia et Gynecologica Scandinavica, 96(8), 932–938. Nghiên cứu trên 298 phụ nữ tại một phòng khám ở Stockholm. Các tỷ lệ 70% và 48% trong bài chỉ áp dụng cho mẫu nghiên cứu này.

  • 03

    3. de la Torre Laso J. (2024). The Reality of Tonic Immobility in Victims of Sexual Violence: “I was Paralyzed, I Couldn't Move”. Trauma, Violence, & Abuse, 25(2), 1630–1637. Tổng quan 11 nghiên cứu về tonic immobility trong bạo lực tình dục. Tác giả lưu ý số nghiên cứu vẫn còn ít và chủ yếu tập trung vào phụ nữ bị cưỡng hiếp.

  • 04

    4. Senn CY, Eliasziw M, Barata PC, et al. (2015). Efficacy of a Sexual Assault Resistance Program for University Women. New England Journal of Medicine, 372, 2326–2335. Thử nghiệm ngẫu nhiên trên 893 nữ sinh viên năm nhất tại ba đại học Canada. Bài sử dụng nghiên cứu này để cho thấy một chương trình phòng ngừa cụ thể có thể có hiệu quả, nhưng không suy rộng thành hiệu quả của mọi hình thức tự vệ.

  • 05

    5. Centers for Disease Control and Prevention. Sexual Violence Prevention Resource for Action. Khung phòng ngừa bạo lực tình dục nhiều tầng, bao gồm thay đổi chuẩn mực, kỹ năng, môi trường bảo vệ và hỗ trợ người sống sót.

  • 06

    6. UN Women. When it comes to consent, there are no blurred lines. Nguồn dùng cho nguyên tắc rằng im lặng không phải đồng thuận và người bất tỉnh hoặc ở trạng thái không thể tự do đưa ra quyết định không thể được mặc định là đồng thuận. Đây không phải nguồn dùng để kết luận pháp lý cho một vụ việc cụ thể tại Việt Nam.

Điều bài này chưa trả lời được

Bài viết này không phải hướng dẫn tự vệ, tư vấn y tế hay phân tích pháp lý một vụ việc cụ thể.

Phần lớn nghiên cứu được dẫn không thực hiện tại Việt Nam, vì vậy các tỷ lệ trong nghiên cứu không được sử dụng để ước tính tỷ lệ tại Việt Nam.

“Freeze” và “tonic immobility” không được sử dụng như hai từ hoàn toàn đồng nghĩa.

Bài cũng không cho rằng mọi người từng bị xâm hại đều trải qua phản ứng bất động, hoặc phản ứng sang chấn có thể tự động giải thích hành vi của một cá nhân cụ thể.

THỰC HIỆN / GHI CÔNG
Nghiên cứu / Phân tích
Dhaelis
Xuất bản bởi
ẤY TỪ TỪ / FOLDA
Kiến trúc số
Sage
THEO DÕI & ĐỐI THOẠI

ĐỌC XONG KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ KẾT THÚC.

LONG FORM

PHẢN BIỆN BẰNG MỘT BÀI.

Response phải chỉ rõ claim, lập luận và bằng chứng. Nó vào hàng biên tập, không thành comment tức thời.

VIẾT RESPONSE →
CÂU HỎI ĐANG MỞ0

Chưa có câu hỏi công khai cho bài này.